| 08-14-2008, 04:41 PM | #1 |
|
(By Khoa)
Sách dạy làm giàu [1] Trồng bởi Khoa Tran, cắt tỉa bởi Du Tran Giới thiệu Sinh là một người thường ôm trong lòng trí lớn, muốn một ngày lột xác thoát cảnh hàn vi, trở thành đại gia. Sinh mơ tới lúc lượn lờ dưới phố thì đi xe Ferrari, khi tung bay trên trời thì đi BD-700 Global Express Jets, lúc nghỉ ngơi thì có mỹ nhân kề cận, khi làm việc thì quyết định vận mệnh cả vạn người. Ấy thế, là người hàn vi, Sinh không biết làm thế nào để đại nguyện tựu thành. Giấc mơ vẫn chỉ là giấc mơ cho tới khi sinh có trong tay kỳ thư về làm giàu trong thiên hạ. Sinh mua được kỳ thư từ Amazon.Com, đem về đọc ngấu nghiến, những tưởng đâu sáng mai thức dậy thì thần tài sẽ gõ cửa. Nào ngờ tiền mất tật mang, lại bị đứa trẻ hàng xóm chê cười là vừa tham, vừa ngu, chẳng khác chi bọn trẻ nhóc mất tiền mua bí kíp võ lâm về đọc nhằm trở thành cao thủ giang hồ như trong phim kiếm hiệp. ![]() Chủ đề về các bí quyết kinh doanh không có gì mới nhưng luôn nhận được sự quan tâm của rất nhiều bạn trên thế giới. Điều này dễ hiểu vì hạng người như nhân vật Sinh trong phần giới thiệu không hiếm. Có khoảng hàng vạn sách về thể loại này, từ thượng vàng đến hạ cám. Trong bài viết này, tôi chủ yếu nói về loại hàng khủng (business bestsellers [2]). Hiển nhiên, đa số dân kinh doanh đã từng đọc sẽ cho rằng những quyển này là kim chỉ nan (bible). Đến cả Steve Ballmer, CEO của đại gia Microsoft, cũng thừa nhận tranh thủ đọc quyển Good to Great, viết bởi Jim Collins [3], trong giờ nghỉ giải lao khi họp bàn về vấn nạn Google. Vậy loại kỳ thư thuộc hàng khủng này có thực sự hữu ích hay không mà khiến ngay cả bọn nhà giàu như Steve Ballmer cũng ngấu nghiến đọc lấy được? Đã có hàng loạt các bài viết và sách khác được chấp bút để ném đá các sách bí kíp hàng khủng này. Dưới đây tôi sẽ nêu một số thí dụ, tập trung chính vào quyển The Halo Effect của Phil Rosenzweig [3.5]. Cách đây không lâu, Steven Levitt (tác giả chính của Freakonomics) có viết một bài From Good to Great… to Below Average châm biếm nhẹ nhàn Good to Great. Cụ thể, trong 11 công ty được Jim tặng huân chương trong quyển này vì có tốc độ tăng trưởng chóng mặt trong vòng 15 năm liên tiếp thì đa số làm ăn loàng xoàng kể từ khi quyển sách ra đời vào năm 2001. Cụ thể hơn, nếu năm 2001 bạn đầu tư vào một trong hai hoặc cả hai trong số những công ty trên là Fannie Mae và Circuit City thì bây giờ bạn đã lỗ hơn 80%. Có lẽ Jim Collins đã sai lầm khi viết rằng các công ty good-to-great được dẫn dắt bởi level-5 leaders, những người không chỉ lãnh đạo giỏi mà còn có thể xây dựng một công ty trường tồn (built to last) ngay cả sau khi ra đi. Bây giờ nhìn lại thì bọn lãnh đạo của Fannie Mae được nhiều báo chí nói đến như một lũ sâu mọt. Như Steven Levitt nói, bạn cuối cùng vẫn chỉ có thể nhìn lại quá khứ và nói nhăng cuội về các công ty đã thành công. Nhưng đấy lại không phải là lý do mà nhiều bạn mua sách của Jim Collins hoặc các sách dạy làm giàu khác. Có một câu ngạn ngữ khá phổ biến: mọi sự dự đoán đều rất khó, nhất là khi dự đoán về tương lai. Chính vì lẽ này mà các kinh tế gia thỉnh thoảng bị chỉ trích chẳng làm gì được cho đời vì họ hầu hết chẳng dám dự đoán về cái quái gì cả. Fannie Mae với Circuit City không phải là lý do tốt để nhận xét về Good to Great, vì nếu thế thì Steven Levitt cũng chỉ là Jim Collins 2.0 beta. Đã có nhiều học giả ném đá Jim Collins ở tầm rộng và sâu hơn, trong đó có Phil Rosenzweig. Do đó tôi xin giới thiệu và bình luận quyển The Halo Effect and Eight Other Delusions that Deceive Managers của ông này. Như một luật bất thành văn, đến một lúc nào đó cũng sẽ có một số công ty nào đó làm phật lòng một tác giả nào đó và rồi sẽ lại có một tác phẩm kinh điển khác ra đời, sành điệu hơn và đọc cũng có lý hơn. The Halo Effect (THE) giúp đọc giả suy nghĩ thấu đáo hơn về 9 ảo tưởng (delusions) thường thấy trong những quyển sách như vậy. Như Freakonomics, Fooled by Randomness, hay Black Swan [4], THE cũng là một bestseller và tác giả cũng rất thích trò ném đá. The Halo Effect phê phán các lỗi ngụy biện (logical fallacies) và ảo tưởng (delusions) mà những nhà quản lý cũng như nhiều tác giả nổi tiếng thường mắc phải. Phil cho rằng các sách kinh điển gần đây tuy phô trương về mức độ nghiên cứu để gây ấn tượng với đọc giả nhưng thực ra chỉ là giả khoa học (pseudoscience) và vẫn chỉ dừng ở mức giỏi kể chuyện (story telling). Không có gì ngạc nhiên khi Nassim Taleb, tác giả của cả 2 quyển Fooled by Randomness và Black Swan, dành những lời có cánh cho The Halo Effect!Ảo tưởng nổi cộm nhất, được trình bày xuyên suốt quyển sách, là hiệu ứng hào quang (halo effect). Một ví dụ điển hình của hiệu ứng hào quang được nói đến là các sách dạy làm giàu thường cho rằng khả năng lãnh đạo của tổng giám đốc, định hướng thị trường (market orientation), sự hài lòng của nhân viên (employee satisfaction),… là những yếu tố mấu chốt dẫn đến sự thành công (performance) của một công ty. Nghe cũng hợp lý thật. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh giá (measure) khả năng lãnh đạo của một giám đốc hay định hướng của một công ty có tốt hay không? Hầu hết, kể các nhân viên trong công ty được hỏi, sẽ đánh giá các chỉ số này dựa trên chính performance của công ty này. Đấy gọi là hiệu ứng halo - hào quang của công ty khiến người ta nhìn vào và tán thán hệ thống quản lý của công ty đó. Do đó, theo ngôn ngữ của Phil, thành công của một công ty chỉ giúp định nghĩa khái niệm lãnh đạo giỏi chứ không hẳn là hệ quả của yếu tố này. Tuy nhiên, Phil cho rằng đây là một lỗi rất thường gặp trong các sách kinh doanh. Các sách này thường viết về các tố chất làm nên một công ty vĩ đại; và cách họ nghiên cứu là hỏi hàng loạt công ty những câu kiểu như “anh cho giám giám bao nhiêu điểm về sự thân thiện đối với nhân viên?”, “nếu được chọn lại, chị sẽ chú trọng vào mặt hàng gì?” Những nghiên cứu như thế này, cho dù quy mô đến cỡ nào (phỏng vấn 1 triệu doanh nghiệp, đọc 1 tỷ báo cáo, 30 người làm việc ngày đêm trong 5 năm) theo Phil đều vô dụng vì chất lượng dữ liệu thấp (low-quality data), cụ thể dữ liệu bị lỗi halo. Một lỗi thường gặp khác là sự nhầm nhọt giữa mối quan hệ tương quan (correlation) và mối quan hệ nhân quả (causality). Một ví dụ thú vị trong kinh doanh là hiện tượng rất nhiều đại gia làm trong ngành công nghệ cao thất học: Bill Gates (Microsoft), Steve Jobs (Apple), Michael Dell (Dell), Larry Ellison (Oracle) đều chưa tốt nghiệp đại học còn 2 ông chủ của Google thì cũng bỏ học tiến sĩ. Đây thực chất là mối quan hệ tương quan, chứ không phải quan hệ nhân quả - tức là không phải thất học sẽ đem lại thành công. Vì thế nếu bạn có ý định bỏ học vì sẽ dễ trở thành đại gia công nghệ cao thì hãy dè chừng. Trong các sách phổ biến mà Phil bêu đầu, các tác giả đều mắc phải lỗi này khi so sánh các công ty với nhau, tìm các đặc điểm giống và khác nhau rồi đưa ra kết luận về các yếu tố tạo nên thành công (chẳng hạn dám bỏ học). Quay lại trường hợp Good to Great, nếu Apple tiếp tục đà tăng trưởng như hiện nay thì vài năm nữa Jim Collins chắc phải thay đổi khái niệm “level-5 leadership” vì Steve Jobs là một kẻ độc đoán chứ không hề có phong cách lãnh đạo giống như 11 giám đốc được khen thưởng trong Good to Great. Phil còn đề cập đến 7 ảo tưởng khác mà các bạn có thể tìm hiểu thêm qua quyển The Halo Effect. Như tôi đã nói, một lý do chính khiến sách của Phil nổi tiếng là vì Phil ném đá các bạn viết khác rất kinh, không chỉ ném đá về cách lý luận, nghiên cứu mà còn ném đá cả về giá trị (added value) các quyển sách của họ mang lại. Theo Phil, chúng thường được viết rất hay nhưng thực ra không có gì đột phá và ai cũng biết [5]. Phil viết “Most popular books return again and again to the same fundamentals. From Tom Peters through Jim Collins, the same themes are sounded: companies do well when managers live by deeply held values, pursue a clear vision, care about their employees, focus on their customers, and strive for excellence.” Ấy là theo Phil, còn theo tôi thì nhắc đi nhắc lại những nguyên tắc cơ bản không phải ai cũng thực hiện được bằng lối kể chuyện hấp dẫn thì cũng có giá trị nhất định nào đó. Chí ít nó cũng tạo thêm được một chút hưng phấn cho bạn đọc trong chốc lát. Một điểm tai hại nữa của các quyển sách dạy kinh doanh nổi tiếng là các tác giả cho rằng nếu bạn tuân thủ các nguyên tắc vàng nêu trên thì bạn nhất định sẽ là người lãnh đạo/quản lý giỏi và theo ngôn ngữ trong quyển The Halo Effect, nghĩa là công ty của bạn sẽ thành công về mặt tài chính. Phil nghiên cứu và đưa ra ví dụ về KMart những năm 1990s. Các nhà quản lý KMart cũng có các phẩm chất tốt và thực tế doanh thu của KMart có tăng mạnh những năm này. Tuy nhiên, doanh thu và lợi nhuận của một đối thủ khác là Walmart lại tăng gấp 10 lần như vậy và cuối cùng KMart cũng phải chết yểu. Tương tự, sẽ rất tai hại nếu suy nghĩ rằng nếu một công ty chưa bao giờ trở nên vĩ đại thì các nhà quản lý của họ còn kém và đáng được thay thế. Nói đến đây, tôi lại liên hệ đến một lỗi logic mà chúng ta hay gặp, đó là hiệu ứng “thấy chưa” (confirmation bias). Confirmation bias có thể hiểu sơ sài qua ví dụ sau: ông Dự đặt cược 2 tạ thóc rằng Barack Obama sẽ thắng cử tổng thống Mỹ và nếu tay này thắng thật, hắn sẽ la lên “thấy chưa” như thể hắn có khả năng dự đoán (trong trường hợp ngược lại Paris Hilton thắng, ông Khoa sẽ là người la lên “thấy chưa”). Bác Hưng đã viết khá chi tiết về Confirmation Bias trong bài Black Swan nên tôi sẽ không nói thêm về lỗi này. [6] Nhìn chung, cách trình bày của Phil tương đối rối rắm nhưng The Halo Effect có nhiều luận điểm thú vị. Tôi không cho rằng THE là sách phải đọc của các bạn mong muốn làm nhà quản lý trong tương lai. Tuy nhiên, nếu bạn nào đã từng gối đầu giường một sách dạy các bí quyết kinh doanh hoặc quản lý nào đó thì cũng nên đọc thêm THE… để tham khảo. Chú thích [1] “Dạy làm giàu”, mặc dù không thật sự miêu tả đúng bản chất của các business books, được dùng chỉ vì ngắn gọn, dễ hiểu .[2] Bạn có thể tham khảo thêm danh sách 25 sách kinh doanh kinh điển nhất qua mọi thời đại được soạn bởi Business Putdit cách đây không lâu. [3] Jim Collins cũng là đồng tác giả của một quyển *kinh điển* trước đó là Built to Last. [3.5] Chú ý: nếu bạn là dân nghiện game, sách này không phải viết về game Halo bạn vẫn hay chơi trên XBox! [4] Bác Ngô Quang Hưng đã có bài review thú vị về quyển Black Swan. [5] Tôi có một niềm tin thế này: khi đọc sách, nếu bạn gật gù với các ý tưởng trình bày trong quyển sách đó thì bạn chỉ đọc lại hoặc cần thêm niềm tin cho những gì bạn biết; còn khi bạn thốt lên “aha” thì lúc đấy bạn mới thật sự học được một cái mới và cũng đồng thời thú vị. [6] Có một ảo tưởng cũng phổ biến trong giới đầu tư mà The Halo Effect không đề cập đến là hiệu ứng chuyên gia (Self-Fulfilling Prophecy) mà tôi đã từng viết sơ qua trong bài “Tại sao các chuyên gia được gọi là chuyên gia“. Tôi chợt nhớ đến Self-fulfilling Prophecy bởi vì mới cách đây vài ngày, tôi có nói chuyện với một anh bạn khá nổi tiếng và có tài nhưng lúc nào cũng lo lắng về vấn đề kiếm bạn gái và lấy vợ . Có lẽ các bạn gái quen với anh ta cũng thấy được sự bồn chồn này. Anh ta tâm sự với tôi rằng “thầy bói bảo rằng số anh ế vợ nên anh lo lắm”. Anh bạn này rất thích nghiên cứu Tử Vi vì “anh thấy Tử Vi nói rất đúng”. Còn tôi thì cũng đã hiểu tại sao Tử Vi lại đúng.More... What are your thoughts? |
|
|
|
|
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
|
|